Thursday, 3 Dec 2020
Da Làm đẹp

Tìm hiểu về cấu trúc của da

Muốn có làn da đẹp, trước hết mỗi người đều nên cần biết được cấu trúc da như thế nào để có thể chăm sóc, bảo vệ làn da của mình.

1. Vậy định nghĩa về da là gì?

Da là cơ quan của hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D. Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Diện tích bề mặt là 2m^2 và nặng bằng 1/6 trọng lượng cơ thể, tình trạng của da có cũng tác động quan trọng lên chính nó.

2. Cấu trúc da

Là cơ quan luôn luôn thay đổi, làn da bao gồm 3 lớp chính biểu bì, hạ bì và mô dưới da – mỗi lớp lại bao gồm nhiều lớp thay thế. Các phần phụ của da như các nang và các tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn cũng đóng những vai trò khác nhau trong chức năng tổng thể của da.

Cấu trúc da

2.1. Lớp biểu bì của da (Epidermis)

Dày từ 0.07 – 1.8 mm: Là lớp ngoài cùng của da, bán trong suốt, chỗ da dầy có đủ 6 lớp tế bào nhưng tối thiểu gồm 2 lớp tế bào (lớp mầm và lớp phủ ngoài sừng hoá). Lớp biểu bì có chức năng bảo vệ cơ thể chống lại mọi ảnh hưởng có hại của môi trường và sự xâm nhập của vi khuẩn.

Lớp biểu bì có tác dụng tổng hợp các vitamin D dưới tác động bức xạ của mặt trời. Lớp biểu bì cũng chứa các tế bào sắc tố quyết định màu sắc của da và ngăn chặn không cho các tia cực tím đi sâu vào da. Một số các thành phần phụ của da cũng thuộc biểu bì bao gồm: nang lông, tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi ly tiết, tuyến mồ hôi ngoại tiết, răng, móng.

Như là lớp da ở phía ngoài cùng mà chúng ta có thể nhìn và chạm vào được, lớp biểu bì bảo vệ chúng ta tránh khỏi các độc tố, vi khuẩn là tránh mất các chất lỏng cần thiết. Nó bao gồm 5 lớp tế bào. Các tế bào được sản sinh ở lớp trong cùng, di chuyển đến bề mặt da. Từ đó, chúng phát triển và trải qua nhiều sự thay đổi. Đây chính là quá trình được biết như là quá trình sừng hóa (hay sự hình thành sừng ở biểu bì), khiến mỗi lớp của tầng biểu bì trở nên khác biệt.

  • Lớp đáy (hay stratum basale): là lớp trong cùng của biểu bì nơi các tế bào keratinocyte được sản sinh.
  • Lớp tế bào gai (hay Stratum spinosum): các tế bào keratinocytes sản sinh chất sừng (các sợi protein) và trở nên có hình con suốt.
  • Lớp hạt (hay stratum granulosum): Quá trình sừng hóa bắt đầu- các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và các hạt này di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và các lipid biểu bì.
  • Lớp bóng (hay stratum lucidium): Các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được.
  • Lớp sừng (hay stratum corneum): Là lớp ngoài cùng của biểu bì, trung bình có khoảng 20 lớp da và các tế bào chết đã được dát mỏng, phụ thuộc vào vùng da của cơ thể. Những tế bào chết này bong ra thường xuyên trong quá trình tróc vảy. Lớp sừng là nơi cư trú của các tuyến mồ hôi và các tuyến bã nhờn.

a. Lớp đáy ( Stratum Germinativum – Basal Layer ):

Là lớp dưới cùng của biểu bì, tiếp giáp trực tiếp với lớp bì và có hình gợn sóng. Được các mạch máu ở lớp bì cung cấp chất dinh dưỡng nên quá trình sản sinh ra tế bào mới ở lớp đáy diễn ra liên tục.

Khắp nơi trên lớp đáy có tế bào tạo sắc tố (Melanocytes), có nhiệm vụ sản sinh ra melanin.

Tế bào chứa melanin quyết định màu da theo chủng tộc, nơi sinh sống. Mỹ phẩm và một số cách khác có thể làm thay đổi màu da tạm thời nhưng rất khó để chuyển hoàn toàn từ màu da này sang màu da khác.

Nơi đây tập trung các “tế bào mẹ” là tế bào sản sinh ra tất cả các tế bào còn lại của lớp biểu bì. Chúng sinh ra các “tế bào con” và các tế bào con này sẽ di chuyển dần lên trên tạo thành các lớp bên trên (lớp gai, lớp hạt, lớp sừng). Khi tế bào di chuyển lên các lớp trên nghĩa là chúng đã già đi và chết khi tới lớp sừng, tại đây chúng sẽ bong ra một cách tự nhiên. Quá trình này gọi là “vòng đời tế bào”, kéo dài từ 26 đến 42 ngày. Khi bạn càng già thì vòng đời tế bào càng kéo dài, tức là quá trình làm mới tế bào chậm đi, làm cho bề mặt da bạn trông sần sùi hơn.

2.2. Lớp hạ bì (Dermis)

Dày từ 0.7 – 7 mm: Trung bì dầy hơn biểu bì từ 15 đến 40 lần. Là một lớp xơ rất chắc, được cấu tạo từ các chất nền tảng (chất gian bào), các tế bào liên kết, bó sợi liên kết và sợi đàn hồi, các tuyến ống và nang lông, cơ dựng lông, mạch máu, thần kinh. Tế bào đặc trưng là các nguyên bào sợi. Chất tạo keo (collagen) là thành phần chủ yếu chiếm 77% trọng lượng lớp trung bì.

Chức năng trung bì: là nơi nuôi biểu bì (qua lớp nhú), cơ quan bài tiết mồ hôi, chất nhờn, đào thải chất bã và các chất độc, là cơ quan điều chỉnh thân nhiệt (qua mồ hôi và co dãn lưới mao mạch), nhận cảm giác và đặc biệt bảo đảm tính đàn hồi, tính mềm dẻo, phục hồi hình thể và vị trí sau cử động làm da không nhăn nhúm, hấp thu một số chất, thuốc qua ống tuyến và chân lông, tái tạo làm liền vết thương, vết bỏng trên da, làm hàng rào sinh học miễn dịch, tạo ra một số men và các chất chế tiết, đáp ứng viêm và các phẩn ứng dị ứng.

Lớp hạ bì

Hạ bì thì dày, đàn hồi, là lớp giữa của da và bao gồm 2 lớp:

  • Lớp đáy (hay stratum reticulare): là vùng rộng và dày, nơi tiếp giáp với hạ bì.
  • Lớp lưới (hay stratum papillare): được định dạng hình làn sóng và tiếp xúc với biểu bì

Hạ bì bao gồm một lớp dày trên lớp mô dưới da và một lớp có hình uốn lượn sóng ở dưới biểu bì. Phần cấu trúc chính của lớp hạ bì là sợi collagen, sợi đàn hồi và các mô liên kết- giúp cho làn da độ khỏe mạnh, linh hoạt mang đến sự trẻ trung hơn cho da. Các cấu trúc này thì gắn chặt với một chất như gel (có chứa axit hyaluronic), có khả năng cao trong việc liên kết với phân tử nước giúp duy trì được thể tích của da.

Lối sống và các nhân tố bên ngoài như ánh nắng mặt trời và sự thay đổi nhiệt độ có tác động đến số lượng sợi collagen và sợi đàn hồi trong cấu trúc da. Khi chúng ta già đi, sự sản sinh sợi collagen và sợi đàn hồi tự nhiên giảm xuống và chức năng gắn kết với các phân tử nước cũng bị suy yếu. Làn da lúc đó trông có vẻ thiếu săn chắc và nếp nhăn xuất hiện.

Lớp hạ bì đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ cơ thể khỏi ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài cũng như nuôi dưỡng lớp ngoài cùng:

Lớp hạ bì dày, có cấu trúc giúp làm nhẹ đi các tác động từ bên ngoài và khi tổn thương xảy ra, chúng có chứa các mô liên kết giúp làm lành vết thương như nguyên bào sợi và dưỡng bào .
Là nơi có chứa nhiều mao mạch máu giúp nuôi dưỡng biểu bì và loại bỏ chất thải.
Tuyến bã nhờn (nơi sản sinh dầu cho bề mặt da) và tuyến mồ hôi (nơi vận chuyển nước và axit lactic tới bề mặt da) thì đều được đặt tại lớp hạ bì. Các chất lỏng này kết hợp với nhau tạo nên lớp màng hydrolipid.
Hạ bì còn là nơi có các cơ quan:

  • Các mao mạch bạch huyết.
  • Cơ quan cảm nhận cảm giác.
  • Chân tóc: nơi tóc được phát triển.

2.3 Lớp dưới da – lớp mỡ (Hypodermis)

Lớp da ở phía trong cùng dày từ 0.25 đến hàng cm. Chúng bao gồm:

  • Các tế bào mỡ: gắn kết lại với nhau thành nhóm như một lớp đệm.
  • Các sợi collagen đặc biệt (được gọi là vách mô hay đường ranh giới): bao gồm các mô liên kết mềm xốp giúp giữ các tế bào chất béo gắn kết lại với nhau.
  • Các mạch máu.

Lớp hạ bì hoạt động như một lớp bảo vệ và ngăn cách trong cơ thể,  giữ cho bạn ấm áp khi trời lạnh và bảo vệ các bộ phận bên trong cơ thể. Lớp hạ bì có hai chức năng chính khác nữa. Thứ nhất nó liên quan đến việc sản xuất vitamin D từ ánh nắng mặt trời và thứ hai nó hoạt động như một nguồn dự trữ năng lượng trong thời kỳ đói kém.

Số lượng các tế bào chất béo ở mô dưới da thì khác nhau ở các vùng trên cơ thể . Hơn nữa, sự tạo thành các tế bào này cũng khác nhau giữa nam và nữ,cũng như cấu trúc của các bộ phận khác của da.Các phần phụ của biểu bì như: gốc lông, tuyến mồ hôi nằm cả ở hạ bì, mạng lưới mạch máu, thần kinh của da cũng xuất phát từ hạ bì. Một số vị trí đặc biệt không có lớp hạ bì như: da cánh mũi, viền đỏ môi, bìu, đầu dương vật, da viền hậu môn, da mí mắt, nền móng chân móng tay, vành tai. Lớp hạ bì phát triển nhiều ở vùng bụng, mông (nhất là phụ nữ), có ảnh hưởng đến thẩm mỹ của cơ thể.

Do da có cấu trúc và chức năng rất phức tạp và quan trọng cho nên việc nuôi dưỡng da, chăm sóc da là hết sức cần thiết và phải khoa học. Mặt trong của da được nuôi dưỡng thông qua chế độ dinh dưỡng bằng đường ăn uống. Còn mặt ngoài của da được nuôi dưỡng chủ yếu bằng cách thẩm thấu. Cho nên, việc nuôi dưỡng, chăm sóc từ bên ngoài là rất quan trọng.

3. Chức năng của da

Tác dụng của da

Chức năng bảo vệ

Về phương diện cơ học: Nhờ lớp sừng da có chức năng chống lại các tác động cơ học lên cơ thể. Lớp mỡ và tính đàn hồi của da có thể chống lại các chấn thương từ ngoại cảnh. Lớp sừng ở những vùng thường xuyên hoạt động và dễ xây xát sẽ được bố trí dày hơn.

Về phương diện vật lý: Da có chức năng giảm tác động của bức xạ mặt trời đến mức thấp nhất nhờ sắc tố melanin ở lớp thượng bì. Các sắc tố trong da cũng có tác dụng ngăn cản tác động của bức xạ ánh sáng bảo vệ các cơ quan dưới da.

Nhờ hệ số dẫn nhiệt của lớp sừng và của tổ chức mỡ dưới da tương đối thấp nên đối với thời tiết lạnh da có chức năng giữ nhiệt và ngăn không cho nhiệt độ trong môi trường tác động vào cơ thể. Đối với thời tiết nóng da cũng có chức năng giảm tác động nhiệt độ từ môi trường. Để có thể giữ thân nhiệt ở mức 36.5 – 37 độ C da thực hiện hai quá trình chính đó là: ra mồ hôi và phản ứng vận mạch.

Giãn mạch với mục đích làm cho máu dồn ra ngoài ngoại vi nhằm tăng tỏa nhiệt, đồng thời tăng tiết mồ hôi là hoạt động của da khi nhiệt độ môi trường bên ngoài tăng cao. Và bằng cách co mạch mấy dưới da, dồn máu vào bên trong, hạn chế sự tỏa nhiệt, đồng thời giảm tiết mồ hôi là quá trình da giữ nhiệt khi nhiệt độ môi trường thấp.

Chống lại các vật chất hóa học: khả năng đệm của màng hydrolipid và axit bảo vệ giúp bảo về cơ thể khỏi các chất hóa học có tính kiềm gây hại.

Chống lại Vi khuẩn và vi rút: lớp sừng của biểu bì và các axit bảo vệ chống lại các loại vi khuẩn và nấm. Nếu có tác nhân nào đó vượt qua được rào cản đầu tiên thì hệ thống miễn dịch của da sẽ phản ứng lại

Chức năng bài tiết và đào thải

Trên da có vô số tuyến mồ hôi và tham gia vào quá trình bài tiết nước và một số chất có hại như ure. Ngoài ra, da còn tham gia đào thải khí carbonic cùng với phổi. Có thể nói da là cơ quan hỗ trợ thận và phổi, trong nhiệm vụ đào thải chất độc.

Chức năng dự trữ và chuyển hóa

Da là nơi dự trữ nước, mỡ, đường, muối, máu và một số vitamin… Khi cơ thể thừa da đóng vai trò giữ lại chúng và cung cấp lại cho cơ thể khi cần thiết.
Da tham gia vào quá trình chuyển hóa vitamin D nhờ ánh sáng mặt trời, giúp cho sự tăng trưởng của cơ thể. Ngoài ra, da tham gia vào quá trình tạo ra chất sừng.

Chức năng cảm giác

Các tận dùng thần kinh thụ cảm ( các tiểu thể thần kinh) được phân bố dày đặc trong các lớp da, giúp bộ não con người có thể cảm nhận được: đau, nóng, lạnh, tác động ngoại lực…
Nhờ có chức năng cảm giác từ da cơ thể có thể thích ứng với những thay đổi từ bên ngoài môi trường. Đây là một trong những chức năng vô cùng quan trọng của da.

 

Qua những thông tin ở trên các bạn đã có cái nhìn tổng quát về da của mình. Từ những kiến thức trên chúng ta sẽ vận dụng vào trong quá trình chăm sóc da của mình, mang lại hiệu quả làm đẹp tốt nhất và hiệu quả nhất.

Xem tiếp bài trong seriesChuyện gì sẽ xảy ra khi da bị tổn thương >>

Leave a Reply

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.